Nghe bài viết

Mở đầu

Giữa nhiều dạng hay biến thể của tự do, mà vào nhiều dịp khác nhau, chúng ta đã được nghe thấy thật nhiều ở Anh quốc, tôi chưa từng nhận thấy bất kỳ thứ gì được đề nghị để thay thế cho quyền tự do thỏa thuận của một người trong các thương thảo tiền bạc. Bởi một sự sao lãng, một ý niệm cũ của tôi, như bạn biết, dạng tự do hiền lành và khiêm tốn này đã trải qua nhiều điều bất công.

Một ý muốn nhất thời mà tôi mới có, là làm phiền bạn với các lý lẽ: nếu bạn nghĩ chúng có khả năng đảm bảo cho bất kỳ mục đích tốt nào, bạn có thể chuyển tiếp tới báo chí; còn nếu không thì hãy đốt nó đi, việc này sẽ ít gây phiền cho bạn.
Nói ngắn gọn, lời tuyên bố tôi quen đặt ra cho bản thân, về chủ đề này, là: không một người trưởng thành và tâm trí lành mạnh nào, hành động tự do và với đôi mắt mở, nên bị cản trở, trên quan điểm vì lợi ích của anh, trong việc thương lượng theo cách thức kiếm được tiền mà anh ta nghĩ là hợp lý; cũng không có bất kỳ ai nên bị cản trở trong việc đáp ứng cho nhu cầu của anh dựa trên bất kỳ điều khoản nào mà anh nghĩ thích hợp để đồng ý.(cái là kết quả tất yếu)
Lời tuyên bố này, nếu được thừa nhận, chỉ với một nước đi, sẽ làm bằng phẳng mọi rào cản của luật pháp, cho dù đạo luật hay thông luật, trong sự liên kết khôn ngoan của chúng dựng lên, để chống lại tội ác trắng trợn của Cho vay nặng lãi, hay chống lại cái tên khó nghe và ít được nghe tới trong thực tiễn ở Tòa hoàng tử; với điều đó ta cũng phải thêm một phần của tội phạm phong phú và ít được nghe thấy ở Maintenance.
Nhân dịp này, nếu tôi phải đối phó với bất kỳ sự phản đối nào, phần việc của tôi sẽ thật êm ái và dễ dàng. “Bạn là người đặt ra xiềng xích cho các hợp đồng, bạn đặt kiềm chế lên tự do của con người, phần việc của bạn là, tôi phải nói, ấn định một lý do cho việc làm của bạn. Các hợp đồng nói chung phải được nhìn nhận như một quy tắc đúng đắn mà không một người nào, từ trước đến giờ, thấy đủ ương ngạnh để phản đối lại; nếu trường hợp này là một trong các ngoại lệ, (vì chắc chắn có ngoại lệ) mà sự an toàn và phúc lợi của mọi xã hội yêu cầu phải đi ra ngoài quy tắc chung đó, trong trường hợp này, như trong trường hợp khác, người cho rằng ngoại lệ là cần thiết, có trách nhiệm đưa ra một lý do cho quan điểm đó.
Điều này, tôi nói, là một phương pháp ngắn gọn và dễ dàng với một cá nhân; nhưng thế giới không có miệng để tự biện hộ, không có người đại diện cụ thể nào có thể “đến và bảo vệ lại quyền lực và sự bất công này”. Tôi thậm chí phải liều lĩnh tìm kiếm các lý lẽ ủng hộ nó, và lục lọi trí tưởng tượng của bản thân để lấy ra những bóng ma mà tôi có thể và đấu tranh với chúng.
Tôi chỉ có thể tưởng tượng 5 lý lẽ ủng hộ việc kiềm chế tự do, mà tôi sẽ tranh luận, đó là:
1. Ngăn cản cho vay nặng lãi.
2. Ngăn cản hoang phí.
3. Bảo vệ người nghèo chống lại sự bóc lột.
4. Kiềm chế sự liều lĩnh của các kế hoạch kinh doanh.
5. Bảo vệ người ngu dại chống lại sự lừa gạt.
Tất cả những điều này theo thứ tự của chúng.

Các lí do kiềm chế tự do: ngăn chặn vay nặng lãi.

Tôi sẽ bắt đầu với ngăn chặn vay nặng lãi: bởi, từ vay nặng lãi mang một định kiến, tôi giả sử, là sức mạnh chính của lý lẽ: hay, nói một cách chặt chẽ, cái quan trọng hơn nhiều mọi lý lẽ. Cái thành lũy của quan điểm mà tôi đang chiến đấu, đã đạt được trong trí tưởng tượng và cảm xúc của nhân loại.
“Cho vay nặng lãi là một điều xấu, và vì thế phải bị ngăn chặn: kẻ cho vay nặng lãi là một hạng người xấu, một loại người cực kỳ xấu xa, vì vậy phải bị trừng phạt và cấm tiệt. Đó là một trong số những lời tuyên bố mà mọi người được trao truyền lại từ tổ tiên: điều mà hầu hết mọi người sẵn sàng tán thành mà không hề xem xét, và thực vậy, đó không phải là một khuynh hướng quái dị hay thậm chí là vô lý; bởi không thể nào số đông nhân loại nên tìm kiếm sự thư nhàn, liệu họ có năng lực, để kiểm tra nền tảng của hàng trăm quy tắc và châm ngôn mà họ thấy bản thân bắt buộc phải hành động tuân theo. Điều này thật là lời biện bạch tốt, cho John Trot: nhưng với các nhà lập pháp thì có thể yêu cầu một chút tính tò mò lớn hơn.
Bạn của tôi, người mà sức mạnh chân chính của các từ ngữ luôn được thấu hiểu, tôi chắc hẳn, đi trước tôi trong việc nhận thấy, rằng khi nói nặng lãi là một thứ bị ngăn cấm, cũng không phải là nhiều hơn hay ít hơn sự cầu xin vấn đề nghi vấn. Tôi chỉ biết hai định nghĩa của nặng lãi; Một là, lấy lãi suất lớn hơn luật cho phép, có thể gọi đây là kiểu định nghĩa chính trị hay pháp luật. Cái định nghĩa còn lại, lấy lãi suất lớn hơn thông thường khi mọi người đi vay và cho vay; định nghĩa này mang kiểu cách đạo đức: và điều này, nơi pháp luật không can thiệp vào, rõ ràng chỉ là một. Nó là rõ ràng, để cho vay nặng lãi bị cấm bởi pháp luật, một diễn tả xác thực về nó phải được luật thiết lập, cố định lại, hay đúng hơn là thế chỗ cái đạo đức. Khi đó, nói rằng cho vay nặng lãi là việc nên bị ngăn cấm, chính là đang nói rằng tỉ lệ lãi suất tối đa phải được cố định; và việc ấn định đó có hiệu lực bởi các hình phạt, hay các phương pháp khác tương tự, nếu như chúng có thể đáp ứng mục đích ngăn cấm sự vi phạm luật. Một luật trừng phạt nặng lãi giả sử, do đó, một luật cố định tỉ lệ lãi suất hợp pháp; và sự đúng đắn của luật hình sự phải dựa trên sự thích đáng của việc ngăn cấm đơn giản, hay nếu bạn hài lòng, một điều mang tính cách giải thích.
Khi đó rõ ràng rằng, từ xa xưa tục lệ rồi mới phát triển thành phong tục, lúc đó không có cái được gọi là vay nặng lãi; bởi tỉ lệ lãi suất nào mà có thể tự bản chất thích hợp hơn là tỉ lệ khác? Giá cả được cố định một cách tự nhiên nào cho sự sử dụng tiền hơn là cho sử dụng bất kỳ thứ nào đó? Chẳng phải, khi đó vì phong tục, nặng lãi, suy xét trên quan điểm đạo đức, không được thừa nhận như một sự định nghĩa: cho tới bây giờ, từ khi có sự tồn tại, nó không thể tưởng tượng được: do đó, luật không thể nào, lấy định nghĩa từ bản thân nó để quy định một sự phạm pháp như vậy, như một hướng dẫn để hướng tới. Nhà đạo đức, trong các quy tắc và châm ngôn của ông, hay nhà lập pháp, trong các lệnh của ông, phải xây dựng trên nền tảng cốt yếu, đó là Phong tục. Nhưng cái nền tảng nào lại yếu hay vô lý, như một nền tảng cho các giới hạn cưỡng bức, hơn phong tục, cái là kết quả của sự tự do lựa chọn? Xảy ra việc những người đồng bào của tôi, tự do, đồng ý với nhau giao dịch tại một tỉ lệ lãi suất nhất định; tôi, có tiền để cho vay, và Titius, người muốn vay từ tôi, sẽ vui lòng, một trong hai chúng tôi chấp nhận, người kia đưa ra, một lãi suất cao hơn của họ; tại sao sự tự do họ thực hiện tạo thành một đòi hỏi cho sự túng quẫn của tôi và Titius của chúng ta?
Cũng không thể cái phong tục vô tri, tạo ra một chỉ dẫn tùy tiện và độc nhất, có bất kỳ sự ổn định hay sự đơn điệu nào trong các quyết định của nó: đa dạng từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, trong cùng một đất nước; đa dạng từ nước này sang nước khác, trong cùng một thời kỳ; tỉ lệ pháp định theo đó cũng đa dạng; và thực vậy, liên quan tới các giai đoạn trong quá khứ, từ tỉ lệ pháp định, ta dễ dàng thu thập lại các phong tục hơn là từ bất kỳ nguồn nào khác. Người Roma, cho tới thời kỳ của Justinian, ta thấy lãi cao 12%; ở Anh quốc, vào thời kỳ cuối của Henry Viii, ta thấy 10%; các đạo luật kế tiếp giảm nó xuống 8% rồi 6% và cuối cùng tới 5%, nơi nó đứng ở hiện tại (1787). Thậm chí hiện tại ở Ireland nó là 6%; và ở Đông Ấn là 8%; và ở khu vực Hồi giáo, luật không giới hạn tỉ lệ, thông thường thấp nhất là 10% hay 12%. Ở Constantinople, trong vài trường hợp, tôi được cho biết, 30% là một tỉ lệ thông thường. Giờ đây, trong sự khác biệt to lớn của tỉ lệ, cái nào về bản chất thích hợp hơn cái khác? Cái nào mà có các bằng chứng cho sự thích đáng trong mỗi ví dụ? Điều gì khác ngoài sự tiện lợi tương hỗ của các bên, biểu lộ rõ ràng bởi sự ưng thuận của họ? Khi đó, sự tiện lợi sản xuất ra bất cứ điều gì của phong tục trong vấn đề; khi đó điều gì có thể ở trong phong tục, mà là một chỉ dẫn tốt hơn sự tiện lợi, cái làm phát sinh nó? Và điều gì trong sự tiện lợi, mà phải khiến nó là một chỉ dẫn xấu hơn trong trường này hơn là trong trường hợp khác? Thích hợp với tôi khi vay với lãi 6%: tôi mong muốn như vậy. “Không” (luật nói), “bạn không thể”. Tại sao? “Bởi người hàng xóm của anh không nên vay nếu lãi suất trên 5%”. Còn điều gì có thể vô lý hơn một lý do như thế?
Tôi nghĩ nhà lập pháp còn nhiều việc chưa làm, trên con đường cố định giá của các hàng hóa khác; và trong những điều nhỏ bé đã được làm, tính trung thực của ý định, nói chung chắc chắn hơn tính ngay thẳng của nguyên lý hay hạnh phúv lớn trong kết quả. Cho vay tiền với lãi suất là trao đổi tiền hiện tại cho tương lai; nhưng nhân loại chưa biết được lý do tại sao mà một chính sách, áp dụng cho trao đổi nói chung, dường như vô lý và gây hại, nhưng lại cần thiết trong trường hợp của loại trao đổi đặc thù này. Bởi anh có thể kiếm được nhiều nhất có thể cho việc sử dụng bất kỳ loại tài sản nào khác, ví dụ một ngôi nhà, ở đây không có tên gọi đặc thù, cũng không có bất kỳ dấu ấn nào của sự mang tai tiếng; không ai là xấu hổ khi làm vậy, cũng không bày tỏ như vậy khi làm việc khác. Tại sao một người kiếm được nhiều nhất có thể (ở 6, 7, 8, hay 10 %) cho sự sử dụng một tổng số tiền, bị gọi là cho vay nặng lãi, phải gánh cái tên nhục nhã, còn nếu anh mua một ngôi nhà với số tiền đó, và tạo một tỉ lệ lợi nhuận nhiều hơn nhờ ngôi nhà, thì anh vô sự, là điều tôi không thể hiểu rõ.
Một điều khác tôi cũng muốn được học hỏi, là tại sao nhà lập pháp phải lo lắng giới hạn tỉ lệ lãi suất theo chỉ một cách? Tại sao phải đối đầu chống lại chủ sở hữu của loại tài sản đó hơn là bất kỳ tài sản nào khác? Tại sao phải nhận nhiệm vụ ngăn cấm họ thu được nhiều hơn một mức giá nhất định cho việc sử dụng nó, mà không ngăn cấm họ lấy thấp hơn, nói ngắn gọn, tạu sao không phải dùng biện pháp khiến việc cho vay với tỉ lệ lãi suất ít hơn, ví dụ 5%, thành tội hình sự, cũng như chấp nhận nhiều hơn? Hãy để ai đó tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi trên; đó là điều vượt quá sức tôi: tôi luôn chống lại lợi thế xa xôi và không thể nhận thấy được của việc hạ thấp giá cả của mọi mặt hàng; và trên con đường xa xôi đó, nhân bội sự vui thú tương lai của các cá nhân; nhưng điều này là một sự suy xét cho đến nay quá xa vời và tinh tế để là nền tảng ban đầu cho việc hạn chế giới hạn đối với mặt này.

Các lý do hạn chế tự do: ngăn chặn sự hoang phí.

Đã làm phần cơ sở, tôi vui vẻ đi tới những tuyên bố, mà trong chừng mực chúng dựa trên thực tế, có lẽ xứng đáng với cái tên lý lẽ. Và đầu tiên, đối với hiệu quả của những luật hạn chế lãi suất liên quan tới việc ngăn cản sự hoang phí.
Hoang phí là một điều xấu, và ngăn cấm nó là mục tiêu đúng đắn của nhà lập pháp, miễn là ông giới hạn bản thân bên trong những phạm vi hợp lý, tôi không phản đối, mà chấp nhận, chí ít cho mục đích của tranh luận; mặc dù đây là câu hỏi chính yếu, tôi phải nhìn nhận nó như phận sự đặt lên tôi để đặt các lý lẽ vào trong ánh sáng công bằng, để tự hỏi không biết, rằng đối với một người đã tới tuổi có thể tự do làm theo ý mình (trưởng thành), những người thứ ba có thẩm quyền hay có trình độ phán xét, cái nào trong hai nỗi đau khổ có sức mạnh lớn hơn và đánh giá thay cho anh: nỗi đau khổ của việc kiềm chế các ước muốn hiện tại, hay nỗi đau khổ bất ngờ trong tương lai anh có thể phải chịu đựng bởi sự thiếu thốn mà cái giá của sự làm vừa lòng những ước muốn hiện nay có thể về sau lấy đi mất khỏi an. Để ngăn cản hành động của chúng ta gây tổn hại cho người khác, cần thiết phải đặt dây cương bên trong những cái miệng của chúng ta: cần thiết cho sự thanh bình và chính ngay sự tồn tại của xã hội; nhưng chính sách hướng dẫn và kiểm soát như một đứa trẻ, đặt trên lưng những người trưởng thành, để ngăn ngừa họ làm bản thân tổn hại, là không cần thiết, cho dù đối với sự tồn tại hay sự thanh bình của xã hội, tôi nghĩ điều này không có gì phải bàn cãi. Việc của người cha như thế, hay nếu bạn vui lòng, việc của người mẹ, chăm lo trông sóc, có thể là một công việc tốt, nhưng nó nhất định chỉ là một công việc vượt quá bổn phận.
Về phần mình, tôi phải thú nhận rằng chừng nào những phương pháp như vậy chỉ được sử dụng, đối với tôi biểu hiện hợp lý, như thế có ở đây, tôi không nên cảm thấy bản thân chán ghét khi nhìn thấy vài phương sách được áp dụng để kiềm chế hoang phí: nhưng điều này tôi không thể nhận thấy như tồn tại của đa số. Các lý lẽ tôi bây giờ sẽ nỗ lực để bày ra trước bạn.
Đầu tiên, tôi xét đến rằng không phải tự nhiên cũng không phải thông thường mà kẻ hoang phí và tương tự, dấn thân vào phương pháp này, ý là, trả một tỉ lệ lãi suất trên mức thông thường- để đáp ứng các nhu cầu của họ.

Kẻ hoang phí có tài sản không đi với với lãi suất cao hơn lãi suất thông thường

Đầu tiên, không người nào, tôi hi vọng bạn thừa nhận, hoang phí hay không hoang phí, từng nghĩ đi vay tiền để tiêu dùng, trong chừng mực có sẵn tiền của bản thân, hoặc các tài sản có thể chuyển sang tiền mà không bị thua lỗ. Và sự suy luận này tấn công cái tôi giả sử bạn sẽ nhìn nhận như tỷ lệ lớn nhất trong những người đối tượng, ở vào bất kỳ thời điểm nào, bị qui tội là hoang phí.
Tiếp theo, không ai, người có tài sản bảo đảm để đưa ra, chí ít trong một quốc gia như Anh quốc, có dịp, cũng gần như không thể, sẽ chọn vay tiền với một tỉ lệ lãi suất khác thường, ngang bằng với tỉ lệ thông thường cao nhất. Trong khi ấy thật nhiều quảng cáo, được nhìn thấy hàng ngày, tiền được cho vay với lãi suất 5%, điều gì làm một người mà có bất kỳ thứ gì để đưa ra mà có thể được gọi là tài sản đảm bảo, để trả, ví dụ 6%, là một điều tôi khó có thể tưởng tượng nổi.

Nhận định ra kẻ hoang phí là việc không dễ dàng và định chế tài sản bảo đảm

Bạn có thể nói, có lẽ, rằng một người muốn cho vay dựa trên tài sản bảo đảm, muốn lãi được trả đúng hạn, mà không phải chịu phí tổn, rủi ro, phiền muộn, và chán ghét kiện tụng; và rằng, dựa trên lý do này, giao dịch với một người tỉnh táo thì tốt hơn kẻ hoang phí. Cho đến đấy thì tôi thừa nhận; nhưng nếu bạn nói thêm rằng vì lí do này kẻ hoang phí sẽ nhất thiết đề nghị nhiều trả lãi nhiều hơn người khác, thì tôi không đồng ý với bạn. Điểm đầu tiên, không dễ dàng gì, cũng không phải việc phổ biến, tôi xét đến, để bên cho vay dựa trên tài sản đảm bảo có thể phán đoán, hay thậm chí hình thành bất kỳ nỗ lực nào để phán đoán, liệu hành vi của một người đề nghị vay tiền liệu có biểu hiện tính tình dưới sự miêu tả này hay không (hoang phí). Câu hỏi, hoang phí hay không hoang phí, phụ thuộc vào hai dữ kiện, không phải là cái nói chung rất dễ để nắm bắt; một mặt, giá trị tài sản và những kỳ vọng hợp lý; mặt khác, tổng chi tiêu. Sự tốt hay xấu của tài sản đảm bảo là một câu hỏi mang bản chất rất khác biệt: dựa trên đề mục này mọi người có một phương pháp phổ biến và dễ dàng để đạt được loại dữ kiện (thông tin) mà là đầy đủ nhất bản tính của các vật ban cho, bằng cách đi tới luật sư. Theo đó, tôi xét thấy, người cho vay, nói chung tìm thấy quyết định của họ dựa trên ý kiến của các luật sư trong cách trường hợp đó, mà không dựa trên bất kỳ sự tính toán nào mà họ có thể hình thành nào liên quan tới số thu và chi phí của người vay. Nhưng thậm chí giả sử tính hoang phí của một người đã được biết tới, đủ để thấy với người như vậy một sự xui khiến, hơn là sự phản đối, miễn là họ thỏa mãn với tài sản đảm bảo. Mọi người đều biết lợi ích được tạo ra trong trường hợp thế chấp, bởi việc tịch thu tài sản thế chấp hay sự bắt buộc phát mại: và sự thuận lợi này thường được chọn lựa, tôi tin tưởng, điều đó không gây nghi ngờ cho bất kỳ ai có bất kỳ dịp quan sát tiến trình công tác ở Tòa Thủ tướng.
Nói ngắn gọn, miễn là kẻ hoang phí có bất cứ thứ gì để thế chấp hay tùy ý sử dụng, cho dù có quyền sở hữu hay thậm chí trong quyền thừa kế, cho dù là bản tính nhất định hay tùy nghi, tôi không thể thấy bằng cách nào anh có thể nhận được dù chỉ là lợi ích nhỏ nhất, từ bất kỳ luật nào có thể được tạo ra nhằn cố định tỉ lệ lãi suất. Bởi giả sử luật có hiệu lực, và kẻ hoang phí chẳng thể tìm thấy những quái vật gọi là cho vay nặng lãi để giao dịch, liệu anh ta có chịu ngồi yên? Không thể có việc như thế: anh tiếp tục và lấy đủ số tiền anh muốn, bằng cách bán tài sản thay vì đi vay. Anh tiếp tục, tôi nói, bởi nếu anh có sự thận trọng đủ để dừng lại bất cứ khi nào, anh không phải loại người có thể bõ công cho luật nỗ lực cản lại bởi những phương tiện như vậy. Quá rõ ràng là với một kẻ hoang phí túng thiếu như vậy, luật đó chẳng thể nào giúp đỡ được gì cả; ngược lại nó có thể và trong nhiều trường hợp chắc chắn, báo hại anh, bằng cách không cho anh chọn lựa một chỗ trông mong vào khi gặp thế bí, cái cho dù bất lợi đến đâu, cũng không thể được chứng tỏ nhiều hơn, mà bản chất được chứng tỏ ít bất lợi hơn những phương sách mà luật vẫn còn để mở ra với anh ta. Nhưng điều đó sau này tôi sẽ nói tới.

Kẻ hoang phí không có tài sản bảo đảm cũng tương tự

Bây giờ tôi đi đến loại còn lại của kẻ hoang phí, viz, những người không có gì có thể được gọi là tài sản đảm bảo để đưa ra. Những người này, nhất định, không nhiều khả năng sẽ vay tiền với một tỉ lệ lãi suất khác thường, hơn là một người bình thường. Những người cảm thấy, hay nhận thấy lí do để làm ra vẻ cảm thấy, một tình thân hữu với người vay, không thể lấy nhiều hơn tỉ lệ lãi suất thông thường: những người không có những động cơ như vậy để cho anh vay, sẽ không cho anh ta vay gì hết. Nếu họ biết anh thực sự ra sao, điều đó sẽ ngăn cản họ, dĩ nhiên: và thậm chí cho dù họ chẳng biết chút gì về anh bởi bất kỳ sự kiện nào khác, chính ngay sự kiện anh không thể tìm thấy một người bạn tin tưởng anh ở vào tỉ lệ thông thường cao nhất, sẽ có đủ lý do với một người lạ để nhìn nhận anh như một người, trong sự nhận định của bạn bè anh, là không có khả năng thanh toán.
Con đường mà kẻ hoang phí rơi vào nợ nần, sau khi họ đã tiêu dùng tài sản của họ, là, tôi giả sử, vay bạn bè và người thân, ở lãi suất thông thường, hoặc, điều này hay xảy ra hơn, không tính lãi, những tổng số tiền nhỏ mà mỗi người có lẽ vui lòng để mất, hay ngại để mà yêu cầu một tài sản đảm bảo thực sự; và khi người hoang phí nói chung có quen nhiều người (quen biết rộng cùng một lúc là nguyên do và hệ quả của sự hoang phí) tổng số tiền một người có thể nhờ đó tìm kiếm các phương tiện để hoang phí có thể đáng kể, mặc dù từng tổng vay có thể, một cách tương đối với hoàn cảnh của người cho vay, là không đáng kể. Đó là đường lối của kẻ hoang phí, người tiêu dùng mọi thứ của họ, và đến hiện tại, dưới hệ thống thực tế của các luật kiềm chế, và cũng chẳng có con đường nào khác, tôi xét đếm, sẽ là đường lối họ đi khi những luật này rời đi.

Kẻ hoang phí vẫn có thể mua hàng hóa mà không cần vay tiền

Một sự suy xét khác là đây, tôi nghĩ, sẽ hoàn thành lòng tin của bạn, nếu nó chưa hoàn toàn trước đó, về sự vô công hiệu của những luật kia với tư cách là việc đặt kiềm lên sự hoang phí. Đó là, luôn có một lớp người mà từ họ những kẻ hoang phí lấy cái anh ta cần, luôn lấy nó, miễn là tín dụng còn kéo dài, bất chấp mọi luật chống lại lãi suất cao; và họ thấy cần thiết, trả chi phí nhiều hơn bất kỳ lãi suất quá mức nào mà họ có thể phải trao đi nếu vay tiền- tôi hàm ý thương nhân, người mua bán hàng hóa họ muốn. Mọi người biết rằng dễ mua hàng hóa hơn là vay tiền. Người ta phó thác hàng hóa dựa trên những đảm bảo mỏng manh hơn họ làm với tiền: lẽ tự nhiên họ phải làm vậy; lợi nhuận thông thường dựa trên toàn bộ vốn được sử dụng trong thương mại của một người, thậm chí sau khi chi phí về tiền thuê nhà xưởng, lương của người làm thuê, và các chi phí nói chung như vậy là được lấy trong sổ kế toán và đặt đối diện với nó, là chí ít bằng gấp đôi lãi suất, khoảng 10%. Lợi nhuận thông thường trên bất kỳ kiện hàng hóa nào, phải do đó, là một giao dịch lớn hơn, khoảng chí ít 3 lần lãi suất, 15%. Trong thương mại, khi đó, một người có khả năng chí ít 3 lần mạo hiểm hơn anh có thể trong con đường của việc cho vay, và với sự thận trọng ngang bằng. Miễn là, khi đó một người được nhìn nhận là sẽ thanh toán, anh có thể dễ dàng hơn nhiều lấy hàng hóa anh muốn hơn anh có tiền để mua chúng, mặc dầu anh hài lòng trả cho nó hai hay thậm chí ba lần tỉ lệ lãi suất thông thường.

Lãi suất cao Rủi ro lớn

Giả sử có bất kỳ ai mà sẵn sàng chịu rủi ro khi cung ứng cho anh ta, vì mục tiêu lợi nhuận khác thường, mặc cho họ không nhìn nhận sự bảo đảm cá nhân của người đó ngang bằng với người khác, và vì lợi nhuận khác thường, chịu rủi ro khác thường; trong thương mại, nói ngắn gọn, trong mọi loại thương mại, người anh đã quen buôn bán cùng trong những ngày có khả năng thanh toán, anh thấy một người có thể chấp nhận bất kỳ tỉ lệ lợi nhuận nào, mà không chịu chút nguy hiểm nào từ bất kỳ luật nào đang có mà hay có thể được tạo ra chống lại cho vay nặng lãi. Vô công rồi nghề ra sao, để nghĩ về việc ngăn chặn một người khỏi lấy 6, hay 7, hay 8% lãi suất nếu anh chọn chịu một rủi ro tương xứng, anh có thể theo cách này lấy 30 hay 40%, hay bất kỳ tỉ lệ nào bạn thích. Và về phần kẻ hoang phí, nếu anh không thể lấy điều anh muốn dựa trên những điều khoản trên, khả năng nào để anh lấy nó dựa trên bất kể những điều khoản nào, giả sử những luật chống vay nặng lãi vắng mặt? Điều này, khi đó, là một con đường khác mà thay vì phục vụ, luật gây hại cho anh bằng việc thu hẹp sự lựa chọn và kéo anh ra khỏi một thị trường mà có thể được chứng tỏ ít bất lợi hơn, tới một cái nhiều bất lợi hơn. [Xem thêm mục “Về đầu cơ trong các ngành kỹ nghê” ở bên dưới].
Đối với kẻ hoang phí, tôi phải thú nhận rằng tôi không thể thấy ích lợi của việc chặn đứng chi tiêu hiện tại theo cách này, ở vào khóa vòi, khi mà tồn tại thật nhiều con đường không thể ngăn chặn của việc để nó chảy ra qua lỗ hổng.
Liệu có bất kỳ tổn hại nào cho xã hội trong tổng thể, khi để thật nhiều tiền rơi khỏi túi của kẻ hoang phí cùng một lúc, người mà đang đi tới việc lãng phí nó, vào trong ngăn kéo của người thương nhân căn cơ, người sẽ sử dụng nó hợp lý hơn, là không hữu ích để tìm hiểu cho mục đích hiện tại; điều rõ ràng là, trong chừng mực việc cứu kẻ hoang phí khỏi phải trả một tỉ lệ khác thường cho cái anh lấy để chi tiêu là mục tiêu của luật, mục tiêu đó không được thúc đẩy một chút nào hết bằng việc cố định tỉ lệ lãi suất tiền vay. Ngược lại, nếu luật có bất kỳ một hiệu ứng nào, nó trái ngược lại với mục đích đó, bởi, đối với người vay, nó chỉ là, trong chừng mực anh có thể vay ở một tỉ lệ thấp hơn với cái mà nếu không thì anh bị ép buộc phải mua. Ngăn chặn anh vay ở vào một tỉ lệ cao hơn thường lệ có thể có hệ quả tăng sự đau đớn của anh, nhưng không thể có hiệu quả làm giảm nó: cho phép anh vay ở một tỉ lệ như vậy có thể có ảnh hưởng làm nhẹ bớt sự đau khổ của anh, nhưng không thể có hiệu quả tăng nó lên.

Giải pháp có hiệu quả để ngăn chặn hoang phí

Để ngăn chặn sự hoang phí, nếu quả thực có giá trị để bõ công làm, tôi chỉ biết một con đường công hiệu mà có thể được sử dụng, thêm vào cho những con đường bất hảo và không đầy đủ ở hiện tại có thể thực hiện, và đó là, đặt người bị tuyên là hoang phí dưới một sự ngăn cấm, như được thực hiện trước đây ở người Roma, và vẫn còn được áp dụng ở Pháp, và các quốc gia mà lấy Luật La Mã làm nền tảng của họ. Nhưng bàn thảo về tính thiết thực hay phác thảo chi tiết một định chế như vậy không thuộc về mục đích hiện tại.

Các lý do để kiềm chế tự do: bảo vệ người nghèo khổ, bần cùng.

Bên cạnh kẻ hoang phí, có ba lớp người khác, mà vì sự an toàn của họ tôi nhận thấy những luật giới hạn tự do được xây dựng, ý tôi là người nghèo, nhà thực nghiệp thiếu suy nghĩ và người ngu dại; những người mà việc thiếu số tiền cần thiết làm cho họ có khuynh hướng trả một lãi suất vượt cao hơn tỉ lệ thông thường hơn là không có được số tiền đang cần, và những con người bởi sự hấp tấp vội vàng có thể có khuynh hướng mạo hiểm và chấp nhận một tỉ lệ lãi suất như vậy, hay từ sự bất cẩn, kết hợp với sự ngu dốt, có khuynh hướng bằng lòng với tỉ lệ đó.
Khi nói tới ba lớp người khác biệt đó, tôi phải xin để lại để xem xét một trong số họ tách biệt với nhau ở một thời điểm, do đó, nói tới người nghèo, tôi phải xem xét sự nghèo khổ, ở vị trí đầu tiên, mà không nhuốm màu với sự ngu dốt.

Người ta vay để tránh tổn thất hoặc thu lợi tùy thuộc vào hoàn cảnh bản thân

Dựa trên lý do này, tôi có thể giả sử, và phải giả sử, không có một sự thiếu sót đặc biệt nào trong phán đoán, hay tính tình của anh, mà làm hành động của anh lệch lạc nhiều hơn đường lối thông thường. Anh biết điều gì là lợi ích của anh, cũng như người khác làm, cũng sẵn sàng và có thể theo đuổi nó như những người khác.
Tôi đã quen thuộc với điều mà tôi nghĩ là không thể chối cãi được, rằng không có 1 hay 2 hay số lượng giới hạn của tỉ lệ lãi suất nào khác mà có thể phù hợp ngang bằng với số lượng không giới hạn của hoàn cảnh, về phương diện mức độ cấp bách, trong đó một người có bổn phận xét thấy bản thân đang ở trong hoàn cảnh nào, đến mức mà, đối với hoàn cảnh một người, bằng việc sử dụng tiền, có thể kiếm được, ví dụ, 11 %, thì 6% là thích hợp, cũng như 5% là thích hợp khi hoàn cảnh của anh chỉ có thể kiếm được 10%; tương tự với người có thể tạo 12 %, thì thích hợp với 7% và vân vân. Cũng vậy, trong trường hợp nhu cầu đi vay của anh để phục vụ việc tránh khỏi tổn thất (cái nhiều khả năng nhất trên quan điểm có tên gọi sự cấp bách) nếu tổn thất lên tới 11 %, 6 % sẽ là thích hợp với hoàn cảnh của anh, tương tự 5%, sẽ là hợp với hoàn cảnh của anh người để bản thân tránh khỏi tổn thất 10% bằng những phương pháp tương tự như vậy. Và trong bất cứ trường hợp nào, mặc dù tỉ lệ lãi thậm chí thật lớn theo tỷ lệ với lượng thiệt hại, đến mức số bảo toàn rõ ràng không nhiều hơn 1 %, hay bất kỳ phần nhỏ % nào; song miễn là nó còn có giá trị nào đó, anh sẽ đúng là tốt hơn khi đi vay, thậm chí trên những điều khoản bất lợi một cách tương đối. Nếu thay vì thu nhập, ta đặt bất kỳ loai khác của lợi thế hay lợi ích vào; thay cho thua lỗ ta đặt bất kỳ loại nào khác của sự tổn hại hay sự bất tiện mà có giá trị ngang bằng, kết quả sẽ là như nhau.
Giả sử, một người nằm trong số những hoàn cảnh mà việc anh vay sẽ là điều có lợi. Nhưng hoàn cảnh của anh ở mức độ mà không đáng giá để bất kỳ ai bõ công cho anh vay ở vào tỉ lệ cao nhất mà được luật cho phép; nói ngắn gọn, anh không thể vay ở tỉ lệ đó. Nếu anh nghĩ anh có thể vay ở tỉ lệ đó, chắc hẳn anh sẽ không trả cao hơn; ta có thể tin tưởng như vậy; bởi vì ta đã giả định, anh không có thiếu sót trong nhận thức. Thực tế là anh không thể vay ở tỉ lệ lãi thấp hơn. Tuy nhiên, ở tỉ lệ cao hơn, anh đã có thể vay; và ở tỉ lệ đó, cho dù cao hơn, nó đáng giá và bõ công để vay; anh phán đoán, không có gì cản trở việc anh phán đoán đúng đắn; người có mọi động lực và phương tiện để hình thành một sự phán đoán đúng; người có mọi động lực và phương tiện để cung cấp dữ kiện cho bản thân về hoàn cảnh, dựa trên tính ngay thẳng của phán đoán, trong trường hợp hồ nghi, phụ thuộc vào. Nhà lập pháp, người chẳng biết điều gì, cũng không thể biết mọi điều về bất kỳ ai thuộc mọi hoàn cảnh đó, người chẳng biết gì cả về vấn đề, đến và nói với anh: Nó chẳng có ý nghĩa gì cả, anh sẽ không có tiền, vì đó là một sự tổn hại đối với anh nếu vay dựa trên những điều khoản như vậy. Điều này đã đi quá sự thận trọng, yêu thương và tử tế. Đây có lẽ là một sự hung ác xấu xa, và chẳng phải là sự ngu ngốc to lớn ư?
Những người điên rồ khăng khăng bất chấp lý lẽ không nhận lời tư vấn, đã được bàn đến nhiều; nhưng sự điên rồ của người khăng khăng bất chấp lý lẽ trong việc áp đặt lời khuyên của họ lên những người khác, được nhắc tới khá ít ỏi, mặc dù có lẽ điều đó xảy ra thường xuyên hơn và trắng trợn hơn. Thông thường thì để một người là quan tòa của người khác thì tồi tệ hơn người khác là quan toàn của bản thân anh ta, thậm thậm cả trong những trường hợp người tư vấn sẵn sàng nhận lấy phiền phức để thu thập thật nhiều dữ kiện cho sự phán đoán mà những dữ kiện này nằm bên trong tầm hiểu biết của người được tư vấn. Nhưng nhà lập pháp không, cũng không thể, sở hữu bất kỳ một trong những dữ kiện đó. Còn điều riêng tư nào có thể điên rồ ngang bằng với sự công khai như vậy?

Kìm hãm sự sáng tạo của kinh tế tư nhân

Bây giờ tôi nên nói về lớp người vay là nhà thực nghiệp: những người này khi được biểu thị bởi một thuật ngữ đơn nhất, là phân biệt với tên gọi bất lợi nhà kế hoạch; nhưng trong cái tôi phải nói về họ, tôi bắt đầu thấy trước GS Smith sẽ mang một phần thật quan trọng, khi tôi đi vào chủ đề đó, tôi sẽ rời xa bạn, và nói chuyện với ông ấy. [Xin xem trong mục “Về đầu cơ trong các ngành kỹ nghệ” ở bên dưới].

Các lý do cho kiềm chế tự do: bảo vệ người ngu dại.

Tôi đến trường hợp cuối cùng, nói về người ngu dại. Đầu tiên, tôi nghĩ tôi có quyền nhận xét, rằng không có sự ngu dại, sự thiển cận của hành động ngu ngốc tuyệt đối nào có thể khiến cho một cá nhân phán đoán một cách vô căn cứ hơn nhà lập pháp phán đoán thay anh, người trong hoàn cảnh kể trên, yêu cầu hạn chế lãi suất mà anh trả.
Một nhận xét khác, cũng rất thuyết phục, là nếu như phán đoán của nhà lập pháp luôn tốt hơn phán đoán của cá nhân rất nhiều, thì điều đó cũng thật nhạt nhòa, sự cố gắng của nó trong trường hợp này chẳng là gì cả, chỉ hoàn vô ích mà thôi, nếu vẫn còn đó thật nhiều những duyên cớ tương tự, như thực tế là vậy, nơi tính ngu dại của một cá nhân có trách nhiệm ngang bằng để khiến anh thành một kẻ bị thiệt hại, và trên đó nhà lập pháp không thể can thiệp có hiệu lực, cũng chưa từng nghĩ về việc can thiệp.
Mua hàng hóa với tiền hay dựa trên tín dụng, là công việc thường ngày: vay tiền chỉ là công việc của vài nhu cầu cấp bách đặc biệt, cái trong tương quan với các việc khác, có thể xảy ra nhưng hiếm thôi. Điều chỉnh giá cả hàng hóa nói chung là một việc bất tận; và chưa từng có nhà lập pháp nào đủ kém cỏi để có ý nghĩ thử làm điều đó. Và giả sử anh quy định giá cả, điều gì biểu thị cho sự bảo vệ người ngu dại, trừ phi anh quy định cả định lượng từng người nên mua? Thực tế, có việc định lượng như vậy được quy định và còn hơn thế, có các phương pháp khác được áp dụng để ngăn cảm việc mua bán nói chung; nhưng trong các trường hợp nào? Trong những trường hợp chỉ khi nào tính yếu kém được kết án đã chạm đến mức độ làm cho một người hoàn toàn không có đủ năng lực để quản lý các công việc của anh ta: nói ngắn gọn khi anh ta chìm sâu vào tính ngu ngốc.
Nhưng trong bất kể cấp độ nào tính yếu kém có thể đặt một người vào sự lừa gạt, anh ta bị đặt vào tình thế đó theo cách mua hàng nhiều hơn là theo cách vay tiền. Nắm trước được giá cả thông thường của mọi loại hàng mọi người, có lẽ là một nhiệm vụ có quy mô to lớn và muôn màu muôn vẻ. Còn để nắm bắt tỉ lệ lãi suất thông thường, nắm bắt một yếu tố đơn nhất, quá nổi bật để mà có thể không hấp dẫn sự chú ý, và quá đơn giản để mà có thể biến mất khỏi trí nhớ. Một vài phần trăm tăng giá hàng hóa, là một vấn có thể dễ dàng để cho qua; nhưng dù là một phần trăm, cao hơn lãi suất thông thường của tiền, là một bước dài làm nhiều người chú ý và bị giật mình hơn là trường hợp tăng nhiều phần trăm giá của bất kỳ loại hàng hóa nào.
Thậm chí liên quan tới các đối tượng mà , bởi sự quan trọng của chúng, nếu bất kỳ ai, biện minh một sự quy định về giá của chúng, ví dụ như đất đai, tôi nghi ngờ liệu từng có một ví dụ nào (mà không có vài nền tảng như sự lừa gạt của một bên, hay việc che dấu các yếu tố cần thiết để hình thành một phán đoán về giá trị, hay chí ít sự thiếu hiểu biết về những yếu tố như thế về phía bên kia) một hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu chỉ bởi một bên bán quá rẻ hay mua quá hời. Nếu tôi theo ý thích nhất thời trả 100 năm lợi tức thay vì 30 năm cho một mảnh đất, để có được nó, tôi không nghĩ có bất kỳ tòa nào ở Anh, hay thậm chí ở bất kỳ nơi nào khác, sẽ can thiệp để cản trở tôi, còn ít khả năng hơn nhiều là có tòa nào trừng phạt người bán vì sự thiệt thòi ba lần lợi tức tiền, như trong trường hợp vay nặng lãi. Còn nữa, khi tôi lấy mảnh đất, và trả tiền, sự ân hận, nếu luật sẵn sàng giúp đỡ tôi, có thể là vô ích; bởi người bán có thể đã tiêu tiền, hay ra đi với nó. Nhưng trong trường hợp vay tiền, người vay luôn ở phía an toàn: do tính bất định hay kỳ hạn tiền được cho vay ngắn, dù anh có phạm phải sự bất cẩn liên quan tới tỉ lệ lãi suất đi nữa, anh có thể chỉnh sửa vào bất kỳ lúc nào; nếu tôi thấy tôi trả quá nhiều lãi cho một người, tôi không có việc gì khác phải làm ngoài việc vay ai khác lãi thấp hơn và tất toán cái hợp đồng kia. Nếu tôi không thể tìm thấy bất kỳ ai cho tôi vay với tỉ lệ thấp hơn, thì đó là bằng chứng chắc chắn rằng cái tỉ lệ đầu thực sự không quá cao. Nhưng đây là việc ta bàn về sau.

Những mối nguy hại của các luật chống cho vay nặng lãi.

Trong các lá thư trước, tôi đã kiểm tra mọi dạng tôi có thể nghĩ tới, trong đó sự kiềm chế áp đặt bởi các luật chống cho vay nặng lãi được cho rằng là có ích.
Tôi hi vọng sự thật đã hiện ra rồi, rằng không có con đường nào mà trên đấy những luật đó có thể làm được bất kỳ điều gì tốt; mà có vài con đường trong đó chúng không làm gì khác ngoại trừ gây ra nguy hại.

Trầm trọng hóa thêm sự khốn khổ

Đầu tiên, tôi đề cập tới việc loại trừ hoàn toàn thật nhiều người khỏi việc vay tiền khi mà họ đang trong thế cần phải đáp ứng những nhu cầu cấp bách tương ứng. Nghĩ tới sự nguy hại nó sẽ sản sinh ra: tự do vay mượn bị từ chốu đối với mọi người; từ chối với người có tài sản đảm bảo mà làm cho tỉ lệ lãi suất họ phải trả, trở thành một lý do đầy đủ cho người có tiền để tạo sự tin tưởng. Chính cùng loại nguy hại đó được sản sinh, bằng việc phủ nhận quyền tự do đó với thật nhiều người mà tài sản bảo đảm của họ, mặc dầu nếu họ được phép thêm chút ít vào tỉ lệ thôi là đủ tiêu chuẩn vay tiền, bị làm cho không đạt chuẩn bởi vì quyền tự do đó của họ bị phủ nhận. Tại sao điều bất hạnh của việc không sở hữu cái cấp độ tùy ý bắt buộc của tài sản bảo đảm, phải tạo một nền tảng để bắt một người phải chịu sự gian khổ, mà không đặt lên những người may mắn hơn, là nhiều hơn tôi có thể hiểu. Phân biệt lớp người trước với lớp người sau, tôi chỉ có thể thấy một sự kiện này, viz, rằng sự cấp thiết của họ lớn hơn. Đây là trường hợp đó, bằng chính ngay sự giả định: bởi nếu không phải như vậy, họ không (điều họ được giả sử làm) sẵn sàng trả nhiều hơn để làm dịu bớt nhu cầu về nó. Trên góc nhìn này, khi đó, khuynh hướng độc nhất của luật là chất đống sự khốn khổ lên trên sự khốn khổ.

Làm thiệt hại chủ sở hữu tài sản

Mối nguy hại thứ hai là khiến cho các điều khoản trở lên rất tồi tệ cho một số đông những người mà hoàn cảnh miễn cho họ khỏi bị hoàn toàn ngăn cản kiếm ra số tiền họ có công chuyện cần tới. Trong trường hợp này, mối nguy hại, mặc dầu tất nhiên có cường độ ít hơn trong trường hợp kia, lại rõ ràng và dễ thấy hơn. Những người không thể vay, có thể lấy được bất kỳ điều gì họ muốn miễn là họ còn có bất cứ thứ gì để bán. Nhưng mà trong khi đó, bên ngoài sự yêu thương trừu mến, hay bất kỳ động lực nào khác, luật ngăn cản một người đi vay dựa trên các điều khoản mà nó dường như quá bất lợi, nó không ngăn cản anh bán dựa trên bất kỳ điều khoản nào, cho dù bất lợi thế nào đi chăng nữa. Mọi người biết rằng bán cưỡng bức đi kèm với thiệt hại; và một lãi suất tưởng rằng thái quá nhất, nói chung không cân xứng được với sự thiệt hại này. Khi tài sản một người bị lấy ra thi hành, họ, tôi tin là bán được giá, nếu sau khi trừ mọi chi phí, còn lại 2/3 của cái nó chi phí để thay thế chúng. Theo cách này, sự lo xa và lòng yêu mến sự tử tế của luật tạo ra chi phí anh 33%,với giả định, điều hiếm khi xảy ra, tài sản không bị lấy đi nhiều hơn cần để thanh toán tiền đến hạn. Nếu trong sự sơ suất và yếu đuối, cô cho phép anh trả 11% hàng năm cho sự kiên nhẫn, nó là 3 năm trước khi anh trả cái anh chịu trách nhiệm trong trường hợp đầu với sự thận trọng của cô.
Sự tốt bụng như vậy của luật đối với chủ sở hữu tài sản, để ta nhìn cách nó gây khó khăn với người có bất động sản. Trước chiến tranh, tôi nghĩ ai cũng đồng ý rằng ba mươi năm lợi tức đất được công nhận là giá trung bình. Trong suốt thời kỳ chiến tranh nguy hại, đất cần bán, được bán ở 20, 18 hiện nay, tôi tin, trong vài trường hợp, thậm chí thật thấp, 15 năm lợi tức. Nếu tôi không nhầm, tôi nhớ có trường hợp tại buổi đấu giá công khai không ai trả giá cao đến 15. Trong nhiều trường hợp, villas, cái được mua trước hay thời kỳ đầu chiến tranh,(và trong khoảng cải thiện hơn làm suy yếu), được bán ít hơn một nửa, hay thậm chí chỉ bằng ¼ giá chúng đã được bán. Tôi không dám tự phụ là chính xác, nhưng ở đoạn văn này, đáng giá để ta chú ý, Mr Skinner hay Mr Christie có thể trang bị chính ngay những ghi chú để cung cấp thông tin này. 20 năm lợi tức, thay vì 30, tôi có thể chấp nhận lấy, chí ít cho ví dụ minh họa. Giả sử một bất động sản, khi đó 100 bảng năm, không thuế, được đầu tư bởi một người, chi phí 1500 bảng với lãi suất cho tới khi tiền được trả là 5%, lãi suất tột cùng mà có thể được chấp nhận từ chủ sở hữu, không xứng với mục đích của người hạn chế; anh chọn có tiền. Nhưng 6%, có lẽ sẽ xứng với mục đích của anh; nếu không, nhất định nhất nó đáp ứng mục đích của ai đó khác; bởi có vô số người mà mục đích của họ xứng với 5%.

Làm lãi suất tăng cao

Điều tôi vừa nói chỉ giới hạn trong trường hợp người đi vay có sẵn giá trị để đưa ra và vay số tiền họ đang cần. Nếu họ không có một giá trị như vậy, khi ấy việc kế tiếp họ làm là bám víu vào sự giúp đỡ, dựa trên bất kỳ mối quan hệ hay điều kiện nào, anh phải vi phạm luật, người cho vay phơi mình ra cho trả thù của nó; bởi tôi không nói về trường hợp ngẫu nhiên mà nó được xây dựng như vậy để gánh trách nhiệm pháp lý về sự lẩn tránh. Nhưng, thậm chí trong trường hợp này, sự ảnh hưởng có hại của luật vẫn theo đuổi họ; làm trầm trọng thêm chính ngay mối nguy hại nó có ý muốn cứu chữa. Mặc dầu nó vô hiệu trong con đường mà nhà lập pháp muốn nó có hiệu quả, nó lại hiệu quả trong con đường đối nghịch. Hệ quả của nó là đẩy tỉ lệ lãi suất cao hơn mức nếu không có nó, bằng hai con đường. Thứ nhất, một người phải, với sự thận trọng thông thường, như GS Smith quan sát, kiến tạo một mục bồi thường, không chỉ cho bất cứ rủi ro khác thường nào mà anh phải gánh chịu, độc lập với luật, mà cho cả chính ngay rủi ro phát sinh bởi luật; anh phải được bảo hiểm đề phòng luật. Nguyên do này sẽ vận hành, cả với người sẵn sàng cho vay dựa trên tỉ lệ bất hợp pháp cũng như hợp pháp. Nhưng chưa hết; một lượng lớn người, dĩ nhiên, bị đẩy ra khỏi cạnh tranh bởi sự nguy hiểm của việc kinh doanh; và một số lớn khác bởi việc mang tai tiếng mà dính liền với cái tên vay nặng lãi, bên dưới sự bao phủ của những luật ngăn cấm này hay khác. Vậy là nhiều người, bị ném khỏi kinh doanh, nó xảy ra trong ngành này, như nó nhất thiết trong mọi ngành khác, những người còn trụ lại ít khi từ chối cải tiến những điều kiện đề nghị (điều khoản); mà không có liên minh (vì phải chấp nhận rằng liên minh trong trường hợp như vậy rõ ràng không thể), mỗi người sẽ thấy dễ dàng đẩy lợi ích lên tới bất kỳ cấp độ nào của sự quá đáng, hơn là anh làm nếu có một lượng lớn người cạnh tranh mà bên vay có thể nhờ cậy tới.
Đối với trường hợp luật có quy định trách nhiệm pháp lý lẩn tránh, thì nó một phần vô hiệu, không đem lại kết quả mong muốn, và một phần tai hại. Nó là vô hiệu nếu sự tin tưởng của những người như vậy là hoàn hảo; nó gây hại, như trước đây, cho những người mà thiếu sự tin tưởng hoàn hảo đó. Nếu người vay chẳng thể tìm người mà anh ta có đủ sự tin tưởng để gánh lấy lợi ích của vết nhơ, người vay bị loại trừ khỏi mọi sự giúp đỡ như trước kia; mà dù anh tìm thấy, thì các điều kiện của người cho vay nhất thiết ngặt nghèo hơn, để tương ứng với sự tin tưởng hoàn toàn. Nó không chắc thật hoàn hảo, nó vẫn ít có khả năng anh công nhận nó là như vậy, nó không thể, chí ít với trường hợp của Anh quốc, khi cái luật xấu nhất đã được viết làm cho mục đích này phải cùng nhau không có hiệu quả; còn nếu có bất kỳ cái hiệu ứng nào, thì không phải tai hại này thì cũng tai hại khác.
Tôi mới hàm ý về sự tai tiếng, nhục nhã, sự oán hận, mà định kiến (là nguyên do và hệ quả của những luật hạn chế) được chất lên đầu lớp người mà hoàn toàn vô tội, thậm thậm còn đáng khen, những người, không ưu tiên cho lợi ích của bản thân hơn việc làm giảm nhẹ sự đau khổ của đồng bào, mạo hiểm phá vỡ những rào cản này. Nhất định không phải một vấn đề nhỏ nhặt khi một lớp người, trong mọi quan điểm ở đó hành động của họ có thể được đặt vào, cho dù trong mối quan hệ với lợi ích bản thân hay quan hệ với người họ giao dịch, cũng như trên căn cứ của sự thận trọng cũng như lòng nhân đức (và thậm chí nhân từ, nhưng trong chừng mực nó là sự sinh sôi của lòng nhân từ) xứng đáng khen ngợi hơn là chỉ trích, mà lại bị xếp cùng loại với kẻ trụy lạc, trác táng, và gánh chịu cùng cấp độ ô nhục cái mà chỉ đáng dành cho hành vi của những người có khuynh hướng đối lập với họ.
Ai đó có thể nói: “Sự đau khổ này, đã được tính toán rồi, không được đem ra để tính lần thứ hai nữa: họ nhận thấy, sự bất tiện này, và đã chăm lo bồi thường theo mức họ nhìn nhận là đủ. Đúng, nhưng liệu sự đền bù, trong các khả năng, được chứng minh là đã đủ? Không có đất cho sự nhầm lẫn ư? Có thể xuất hiện việc không mong đợi, tai nạn không thấy trước, đủ để chuyển từ vừa lòng hết sức thành cay đắng tột cùng mà sự quan trọng của thù lao tiền tài có thể khỏa lấp được? Bởi ai có thể thấy hết được kết cục của chuỗi vô tận hiệu ứng có khả năng nảy sinh từ việc mất mát danh tiếng? Ai có thể đo được độ sâu của vực thẳm ô nhục? Ở bất kỳ tỉ lệ nào, khoản tai hại này, nếu không phụ thêm những điều khác đã được nhắc tới trên kia, chí ít cũng phân biệt rõ ràng với những cái khác tự bản tính, và như vậy không được bỏ qua.
Cũng không phải sự kiện thi hành luật bằng bất kỳ phương pháp nào là một thứ vô tiền khoáng hậu; một số như vậy, ở các thời điểm khác nhau, rơi vào tầm chú ý của tôi. Khi đó dẫn tới kiếp đọa đầy tuyệt đối, mất tên tuổi, và bị tước, không phải ba lần lãi suất tăng thêm cái hình thành lợi nhuận của sự vi phạm, mà ba lần người chủ trao cơ hội cho nó.

Làm sói mòn đạo đức của người dân

Mục cuối tôi phải đề cập trong khoản mục tai hại, là ảnh hưởng sai lạc của các luật tới đạo đức của người dân, bởi sự đau khổ chúng gây ra và không phải chỉ gây ra, mà còn tạo hang ổ sản sinh ra sự dối trá và vô ơn bạc nghĩa. Để thu được khả năng cưỡng bức, luật chẳng nhận thấy, cũng không phải cái nó từng hi vọng thấy ở trong trường hợp này, bất kỳ điều nào khác hơn là thuê một người phá vỡ cam kết của anh ta, nghiền nát bàn tay đã dang ra để giúp đỡ anh ta. Trong trường hợp của những người chỉ điểm nói chung, không có lời cam kết thành thật, cũng không được nhận lợi ích. Trong trường hợp tội phạm thực sự được khuyến khích bởi phần thưởng để tố cáo chống lại đồng phạm, nhờ việc phá vỡ lời cam kết mà xã hội được duy trì. Trong trường hợp tội phạm đích thực, theo tỉ lệ với tính gây hại rõ ràng, không thể là gì khác ngoài tội phạm, khi đó nếu trung thành với cam kết, anh sẽ làm tổn hại cho xã hội, còn vi phạm cam kết thì thay vì gây tai họa, anh làm điều tốt: trong trường hợp cho vay nặng lãi, điều này không ai có thể nhận thấy, và khó có bất kỳ ai có thể tưởng tượng, người vay, lại liên quan tới một giao dịch như vậy. Anh ta biết rằng, thậm chí với nhận định của bản thân, cam kết là có lợi cho bản thân còn nếu không anh sẽ không tham gia và không ai khác ngoài người cho vay là bị ảnh hưởng bởi luật cấm cho vay nặng lãi.

Tạo độc quyền thị trường và làm trì trệ nền kinh tế

Xin xem mục “Về đầu cơ trong các ngành kỹ nghệ” bên dưới

Sự vô hiệu của các luật chống cho vay nặng lãi

Trước khi tôi hoàn thành việc xem xét trường hợp trong đó luật vô hiệu quả trong mục đích giới hạn tỉ lệ lãi suất, tôi không thể không lưu ý về đoạn văn của Gs Smith, vừa mới được ám chỉ, bởi, với theo tôi, đoạn đó đem sự tối tăm vào chủ đề mà tôi mong sẽ thấy rõ ràng hơn trong lần tái bản của công trình giá trị đó.
[Trích]
Nếu đây là luận điểm chung, sẽ tốt hơn, nhưng tôi phải thú nhận không phải vậy. Với mục đích cung cấp tính xác thực của mệnh đề chung này, tác giả dường như chỉ viện dẫn thực tế, bởi không có lý lẽ khác nào được đưa ra. Nhưng việc lấy thực tế được công nhận, tôi cho là không đủ để hỗ trợ kết luận. Luật, ta nói cùng thời điểm, bị lẩn tránh; nhưng lại không nói cách nào mà nó mở toang cánh cửa cho sự lẩn tránh. Có lẽ là bởi một thiếu sót đặc biệt trong soạn thảo luật; hay các lỗ hổng trong các điều khoản thi hành. Nếu không thì, nó không hỗ trợ cho mệnh đề chung và quan điểm đó không thể đúng, trừ phi quan điểm đó đúng đắn cả trong trường hợp các điều khoản có thể đem lại hiệu quả cho luật. Bởi nếu quan điểm đó đúng, thì thực tế luật vẫn bị phá vỡ, ngay cả khi mọi phương pháp gọi là lẩn tránh đều bị loại trừ. Dù sao thì quan điểm không phải bằng chứng tự thân đủ để được công nhận mà không cần chứng minh; song không gì khác được viện dẫn ngoài sự kiện thực tế, cái chẳng có trọng lượng gì cả. Tôi không hi vọng thấy nó có khả năng làm chứng cứ. Tôi không thể thấy cái gì làm cho luật không thể “giảm tỉ lệ chung dưới tỉ lệ thị trường thấp nhất thông thường”, mà một trạng thái sự việc như vậy, một sự kết hợp các hoàn cảnh như vậy, đến mức có đủ sức gây chướng ngại mà ngang bằng quyền lực, hay gần như vậy, đối với hiệu quả của luật chống lại mọi tỉ lệ cao hơn. Tôi không biết điều gì mà phá hủy hiệu quả của luật chung, ngoài một cách giải quyết đó là giữ riêng tư và không công bố; mà giải quyết như vậy thì bất kỳ tỉ lệ nào, dù cao hơn hay thấp hơn cũng có hiệu lực bảo vệ như nhau. Giả sử nó, nói chặt chẽ, phổ biến, thì luật phải, trong mọi hoàn cảnh, vô hiệu ngang bằng nhau; mọi tỉ lệ lãi là tự do ngang nhau; và tình trạng của những người giao dịch theo cách này thì không có luật nào chi phối được. Nhưng trong trường hợp này, quan điểm trong chừng mực nó giới hạn sự vô hiệu của luật tới tỉ lệ mà “thấp hơn lãi suất thông thường thấp nhất thị trường” là không đúng. Về phần tôi, tôi không thể thấy bất kỳ giải pháp phổ biến nào có thể duy trì, hay có thể từng duy trì, mà không phải là một sự sắp đặt công khai, và như việc mở một cuộc nổi loạn chống lại chính phủ; không điều gì thuộc loại này diễn ra; và như bất kỳ âm mưu đặc biệt nào, họ có khả năng bảo vệ bất kỳ tỉ lệ nào chống lại sự ngăn cấm.
Do đó, phải thừa nhận rằng tỉ lệ thấp nhất thông thường của thị trường ngay trước khi tạo luật, là có khả năng được bảo vệ chống lại luật, thường xuyên hơn bất kỳ tỉ lệ nào khác. Thứ nhất, bởi số lượng của những tỉ lệ thông thường, nó xuất hiện thường xuyên hơn cái khác thường; thứ hai, bởi sự tai tiếng đi kèm với ý nghĩ nặng lãi, một sức tác động có thể nhiều hay ít hiệu lực trong việc loại trừ những tỷ lệ khác thường khỏi sự bảo vệ được nói bên trên, không thể nào được giả sử không ngang bằng mức độ, với tỉ lệ thấp và thông thường này. Người cho vay ít khi ngừng lấy cái tỉ lệ mà không chịu tai tiếng, hơn là ngừng lấy một tỉ lệ mà chịu sự phiền phức đó; cũng không thể nào sự sáng tạo và cảm xúc của con người chứng tỏ đột ngột khúm núm với pháp luật, bằng cách dán tem tai tiếng ngày nay dựa trên một tỉ lệ lãi suất mà không mang theo định kiến thời điểm trước đây.
Nếu tôi được hỏi tôi nghĩ sao về trường hợp xảy ra trong ví dụ đặc biệt liên quan tới Gs Smith, nhận định về sự tính toán của ông về nó, được hỗ trợ bởi những xác suất chung, tôi phải trả lời như sau: luật, tôi phải giả sử, không thật sự được soạn thảo cùng chứng cứ chống lại việc lẩn tránh. Trong nhiều trường hợp, mà không thể có sự tính toán nào được sử dụng, nó thực sự tuân theo; trong những trường hợp này, mọi người cho vay cách khác, chẳng cho vay gì cả; trong trường hợp khác, dân cho vay ở vào tỉ lệ giảm mà pháp luật quy định. Trường hợp khác, luật bị phá vỡ; bên cho vay tin tưởng một phần vào những thủ đoạn lặp đi lặp lại để trốn tránh nó, một phần vào sự trung thực và danh dự của bên vay; trong trường hợp này, tự nhiên, bởi 2 lý do trên, những tỉ lệ luật cũ được tôn trọng có số lượng lớn nhất. Từ hoàn cảnh, không chỉ số lượng mà sự ghê tởm trực tiếp của họ đối với luật gần đây, họ tự nhiên sẽ chú ý nhiều nhất. Và điều này, có lẽ, là nền tảng theo thực tế, cho quan điểm chung trên kia của Gs Smith.
Tại Anh quốc, trong chừng mực tôi có thể tin tưởng phán đoán và trí nhớ bất hảo của mình về mục đích của các luật liên hệ với vấn đề này, tôi không giả sử quan điểm trên đúng. Không có bất kỳ việc nào như vậy mà rõ ràng , cũng như nhận được tính thực hành phổ biến cho mục đích đó, là rõ ràng từ ví dụ của sự kết án dựa trên những luật mà tôi mới đề cập, mọi điều bây giờ và sau đó xảy ra. Những sự kiện như vậy, tôi sẽ có dịp để đề cập tới; nhưng chúng không đủ hiển đủ trong bản tính, quá rắc rối, hay không đủ rộng trong việc áp dụng, để tước đoạt hiệu lực của luật cả trên phương diện sự khiếp sợ lẫn sự ngăn ngừa có hiệu quả của nó.
Trong quốc gia tôi đang đề cập, toàn bộ hệ thống của luật về chủ đề này là hoàn hảo, và thật hạnh phúc, không có hiệu quả. Tỉ lệ cố định bởi luật là 5%; có nhiều người cho vay tiền, nhưng không ai cho vay ở tỉ lệ đó; tỉ lệ thông thường thấp nhất dựa trên tài sản bảo đảm thật tốt, là 8%, 9, và thậm chí 10% dựa trên tài sản đảm bảo như vậy là bình thường. 6 hay 7% giữa họ hàng hay bạn bè bặc biệt khác; bởi, một người có thể chọn trao món quà 1 hay 2% cho người anh bày tỏ thiện ý. Hợp đồng tái ký từng năm; để vay 1000 ruobles, người vay, đặt nghĩa vụ cho bản thân vào cuối năm trả 1050 ruobles. Trước người làm chứng anh nhận 1000 rouble; và sau đấy, khi không có người làm chứng, anh ngay lập tức trả 30 roubles, hay 40, hay bất kỳ tổng số nào, mà cần thiết đem tỉ lệ lãi suất thật ngang bằng với tỉ lệ đã đồng ý bằng miệng.
Sáng kiến này, không có ở Anh quốc; nhưng tại sao nó không, là một câu hỏi vô ích cho tôi để tự phụ bàn thảo vượt thẩm quyền.

Lãi kép hay Lãi mẹ đẻ lãi con

Tôi phải làm phiền bạn một chút liên quan tới lãi kép; bởi lãi kép bị pháp luật tỏ ý phản đối, như một loại của cho vay nặng lãi. Tôi nhớ rõ pháp luật chưa bao giờ công bố điều đó trong một quy định rõ ràng; liệu pháp luật cho phép nó bằng quy định rõ ràng, tôi không chắc chắn tuyệt đối. Tôi giả sử như vậy khi căn cứ vào hợp đồng thế chấp mà lãi trở thành gốc. Dù sao đi nữa, tôi nghĩ luật không thể trừng phạt lãi kép dưới cái tên nặng lãi.
Nếu sự phản đối bề ngoài với hợp đồng này có nền tảng dựa trên sự ghê tởm với tội ác cho vay nặng lãi, sự không hợp lý của việc tỏ ý phản đối dĩ nhiên rõ ràng , từ những lý lẽ mà thể hiện sự không “sai trái của tội lỗi” đó [mà tôi đã trình bày trên kia].
Lý lẽ khác chống lại nó, tôi tin tưởng, chưa bao giờ được thử, trừ việc nó đưa cho một hợp đồng như vậy tính ngữ “vô cảm, khắc nghiệt”; trong việc làm này, thứ gì đó nhiều hơn một lý do được đưa ra, hơn là một cái thông thường, lấy từ thông luật.
Nếu sự kiên định đó được tìm thấy trong thông luật, cái chưa bao giờ được thấy trong hành vi của con người, và cái có lẽ khó khăn trong bản tính người, lãi kép chưa bao giờ bị phản đối.
Các quan điểm mà gợi ý sự phản đối này, tôi dám nói, rất tốt; các hệ quả của nó rất nguy hại, tôi chắc chắn.
Nếu bên vay trả lãi đúng hạn, nếu anh ta thực hiện cam kết của mình- cái mà luật pháp có ý cưỡng bách anh làm theo, bên cho vay nhận được lãi chắc chắn sẽ tạo lãi kép, bằng cách lại cho vay lần nữa, trừ phi anh chọn tiêu dùng tiền lãi đó; anh hi vọng nhận lãi đúng hạn, hay cam kết có nghĩa là gì? Nếu anh bị thất hẹn, anh là người thua thiệt; bên vay trả đúng hạn không phải người thua thiệt; nếu anh không trả đúng hạn, anh là người được lợi; sự đau khổ của thất vọng diễn ra trong trường hợp của một người, trong khi đó không có sự đau khổ nào như vậy diễn ra trong trường hợp của người kia. Nguyên do của người muốn thu về lợi ích, lại được ưu tiên hơn người muốn tránh sự thiệt hại; điều này đối lập với châm ngôn hữu ích và hợp lý của cái nhánh thông luật mà có tên “sự công bằng”. Lợi ích, cái luật trong sự dịu hiền ban cho bên trễ nợ, là một sự khuyến khích, một phần thưởng mà nó dành cho việc phá vỡ lòng trung thực, sự tin tưởng và cam kết, phần thưởng dành cho sự bất công, cho sự biếng nhác, cho sự cẩu thả, lơ đễnh.
Làm bên cho vay thua thiệt là một hình phạt giáng sự kiên nhẫn của anh; quyền lực mà nó trao cho anh tránh khỏi tổn thất đó, bằng việc kiện bên vay dựa vào phá sản, lại chuyển hóa thành một phần thưởng giành cho sự nhẫn tâm và sự cứng đờ của bên vay. Con người hầu hết không tốt lành như được ước muốn; nhưng anh sẽ bất lương, trong mọi việc mà luật làm cho sự bất lương trở thành lợi ích của anh.
Bạn nói: Bên vay trả đúng hạn là điều không thể, thường là không thể: bạn nói đúng. Suy ra điều gì? Bên cho vay không có quyền phá sản bên vay chỉ vì không trả đúng hạn, và anh nên nhận bồi thường cho tổn thất gây ra bởi sự trễ hạn- Hay là anh có quyền phá sản bên vay nhưng không có quyền nhận sự bồi thường đó. Thẩm phán, cho dù đối với bên nợ bị bắt giữ trong phòng thẩm phán thay vì trong nhà bọt biển, có thể quyết định trì hoãn thích hợp với hoàn cảnh của các bên. Nó không thể, nhưng một sự trì hoãn giành được, dù hợp lý hay không, thông qua bảo lãnh và đấu tranh với bên cho vay thông qua mọi sự quanh co ranh mãnh và những trì hoãn không cần thiết, có giá bằng mười lần, bằng trăm lần chi phí của lãi kép. Bên cho vay bị tổn hại chẳng nhận được một phần bồi thường nào cho lỗi ban đầu của bên vay, hay vì điều phiền toái làm trầm trọng thêm tổn hại đến sau đó; nhưng các công cụ của pháp luật thu tiền, có thể từ túi của bên cho vay hoặc bên vay, mười lần, trăm lần số bồi thường. Đó là kết quả của tính dịu hiền của luật.
Cũng xuất phát từ tính dịu hiền đó, mà trong thật nhiều trường hợp, nhiều người thấy bản thân thua thiệt khi trả các khoản nợ chính đáng: chính ngay cả những khoản nợ mà luật đã thừa nhận là công bằng. Người mà tuân theo tiếng gọi của sự trung thực, người mà tuân thủ làm điều mà luật ra lệnh cho anh, lại ngu đần với chính bản thân! Từ đó, một trát lỗi thông thường và sinh lợi an toàn trong thượng viện; từ đó những chi phí bừa bãi và thù hằn của 100 pao, và 200 pao liên tục được chi ra ở đó. Nó là tự nhiên, và nó là gì đó thấy trong hội đoàn đó, một lòng sốt sắng cho công lý: đó không phải tự nhiên, để thấy trong hội đoàn đó một sự sắp đặt uốn cong việc tính toán cực nhọc.

Định kiến Đầu cơ và Lãi cao rủi ro cao

(Còn tiếp)
image_pdfimage_print

Trả lời

Điện thoại
Messenger
Zalo
Facebook
Liên hệ